20

Khách sạn Mai House Saigon

1 Ngô Thời Nhiệm, P. Xuân Hòa, TP. HCM

Địa điểm:

THỨ 7

08:40 - 15:30

THÁNG 12

2025

Thời gian:

THAM LUẬN VIÊN

BÁO CÁO VIÊN

  • PGS.TS.BS. Phạm Cẩm Phương
  • Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu,
  • Bệnh viện Bạch Mai
  • TS.BS. Lê Tuấn Anh
  • Giám đốc Trung tâm Ung bướu,
  • Bệnh viện Chợ Rẫy
  • BSCKII. Nguyễn Tuấn Khôi
  • Trưởng khoa Nội phụ khoa - Phổi,
  • Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM
  • BSCKII. Trần Trung Nghĩa
  • Chủ nhiệm khoa Tâm thần kinh,
  • Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM
  • BSCKII. Nguyễn Phúc Nguyên
  • Trưởng khoa Ung bướu,
  • Bệnh viện Bình Dân
  • PGS.TS.BS. Nguyễn Thị Thái Hòa
  • Trưởng khoa Nội 2,
  • Bệnh viện K
  • GS.BS. Geoffrey Liu
  • Trung tâm Ung thư Princess Margaret,
  • Toronto, Canada
  • GS.BS. Boris Alexander Hadaschik
  • Giám đốc và Chủ nhiệm Khoa Tiết niệu,
  • Bệnh viện Đại học Essen, Đức

CHỦ TỌA

  • PGS.TS.BS. Đỗ Anh Tú
  • Phó Giám đốc Bệnh viện K
  • BSCKII. Võ Đức Hiếu
  • Phó Giám đốc Bệnh viện Ung bướu TP.HCM

Ăn trưa

12:00 - 13:30

Phát biểu bế mạc

PGS.TS.BS Đỗ Anh Tú

11:50 - 12:00

Thảo luận

10:50 - 11:50

09:40 - 09:55

Điều trị lo âu và trầm cảm ở người bệnh ung thư

BSCKII. Trần Trung Nghĩa

09:55 - 10:10

Giải lao

Đón tiếp và đăng ký

08:40 - 09:00

09:10 - 09:25

Bối cảnh ung thư phổi và ung thư tuyến tiền liệt tại Việt Nam

PGS.TS.BS. Nguyễn Thị Thái Hòa

09:25 - 09:40

Nâng cao kết nối liên chuyên khoa trong quản lý ung thư tại Việt Nam

BSCKII. Nguyễn Phúc Nguyên

09:00 - 09:10

Phát biểu khai mạc

BSCKII. Võ Đức Hiếu

10:30 - 10:50

Tối ưu hóa quản lý ung thư tuyến tiền liệt bằng chẩn đoán sớm và các liệu pháp thế hệ mới

GS.BS. Boris Alexander Hadaschik

10:10 - 10:30

Tầm soát đột biến gen trong quản lý ung thư: Nền tảng trong điều trị cá thể hóa

GS.BS. Geoffrey Liu

Chương trình Vietnam Oncology Summit (VOS) 2025
Nâng Cao Chất Lượng Điều Trị Ung Thư Tại Việt Nam Tại Việt Nam
Với sự phát triển của y học hiện đại, các liệu pháp thế hệ mới như liệu pháp hormone thế hệ mới trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt và kháng thể đặc hiệu kép trong điều trị ung thư phổi đang mở ra hy vọng mới, giúp kéo dài thời gian sống còn, cải thiện thời gian sống không tiến triển bệnh và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Đặc biệt, việc cá nhân hóa điều trị thông qua xác định chính xác các đột biến gen và đặc điểm sinh học của khối u đang giúp bệnh nhân được chọn lựa chiến lược điều trị hiệu quả hơn, giảm thiểu tác dụng phụ không cần thiết.
Tuy nhiên, tại Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức trong điều trị, đặc biệt trong vấn đề chẩn đoán sớm, xác định đột biến nhắm đích, và áp dụng hiệu quả các liệu pháp mới trong thực hành lâm sàng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị mà còn làm tăng gánh nặng tài chính và tinh thần cho bệnh nhân, người thân và xã hội.
Tất cả những nỗ lực này đều hướng đến một mục tiêu chung: giúp bệnh nhân ung thư phổi và ung thư tuyến tiền liệt tại Việt Nam được chẩn đoán sớm hơn, tiếp cận điều trị toàn diện, hiệu quả hơn, từ đó sống lâu hơn, sống khỏe hơn và sống có chất lượng cuộc sống tốt hơn.
Theo thống kê GLOBOCAN 2022,
  • Ung thư phổi là loại ung thư phổ biến thứ ba với 24.426 ca mắc mới, chiếm 11,3% tổng số ca ung thư mới, và đứng thứ hai về tỷ lệ tử vong với 22.597 ca tử vong.
  • Ung thư tuyến tiền liệt cũng là một trong những loại ung thư phổ biến ở nam giới, với 5.875 ca mắc mới, chiếm 2,7% tổng số ca ung thư mới. Mặc dù đã có những tiến bộ trong điều trị, tỷ lệ sống còn sau 5 năm của hai loại ung thư này vẫn còn thấp, phản ánh gánh nặng bệnh tật to lớn không chỉ với người bệnh mà còn với gia đình và hệ thống y tế.
Chương trình Vietnam Oncology Summit (VOS) 2025, lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam, là chương trình giáo dục y khoa được phối hợp tổ chức bởi Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM và Công ty TNHH Johnson&Johnson Việt Nam. Đây là cơ hội quý báu để các bác sĩ điều trị ung thư tại Việt Nam được kết nối, chia sẻ, cập nhật kiến thức và học hỏi cùng các chuyên gia hàng đầu trong nước và quốc tế từ Đức và Canada. Thông qua chương trình, các bác sĩ điều trị ung thư tại Việt Nam sẽ được:
  • Cập nhật kiến thức chuyên môn trong điều trị Ung thư Phổi và Ung thư Tuyến tiền liệt, bao gồm tăng cường kết nối liên chuyên khoa, tầm soát ung thư sớm và xác định đột biến nhắm đích.
  • Trao đổi kinh nghiệm điều trị lâm sàng với các chuyên gia trong nước và quốc tế, giúp tối ưu hóa việc ứng dụng các liệu pháp thế hệ mới trong bối cảnh thực tế tại Việt Nam.

CHỦ TỌA

BÁO CÁO VIÊN

THAM LUẬN VIÊN

  • BSCKII. Võ Đức Hiếu
  • Phó Giám đốc Bệnh viện Ung bướu TP.HCM
  • PGS.TS.BS. Nguyễn Thị Thái Hòa
  • Trưởng khoa Nội 2,
  • Bệnh viện K
  • GS.BS. Geoffrey Liu
  • Trung tâm Ung thư Princess Margaret,
  • Toronto, Canada
  • BSCKII. Nguyễn Tuấn Khôi
  • Trưởng khoa Nội phụ khoa - Phổi,
  • Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM
  • TS.BS. Nguyễn Duy Sinh
  • Giám đốc Y Khoa, Viện di truyền y học
  • và Công ty Gene Solutions
  • PGS.TS.BS. Lê Thượng Vũ
  • Trưởng khoa Hô hấp,
  • Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM
  • TS.BS. Lê Tuấn Anh
  • Giám đốc Trung tâm Ung bướu,
  • Bệnh viện Chợ Rẫy
  • TS.BS. Nguyễn Minh Hải
  • Chủ nhiệm khoa Nội Hô hấp,
  • Bệnh viện Trung ương Quân đội 108

Phát biểu khai mạc

BSCKII. Võ Đức Hiếu

13:30 - 13:35

Thách thức và cơ hội trong phát hiện đột biến EGFR chèn đoạn Exon 20 NSCLC bằng giải trình tự gen thế hệ mới (NGS)

TS.BS. Nguyễn Duy Sinh

13:35 - 13:50

Cập nhật hướng dẫn chẩn đoán và điều trị NSCLC có đột biến EGFR chèn đoạn Exon 20

BSCKII. Nguyễn Tuấn Khôi

13:50 - 14:05

Tối ưu hóa chiến lược điều trị bệnh nhân NSCLC có đột biến EGFR đề kháng với TKI Cập nhật từ các dữ liệu và khuyến cáo 2025

GS.BS. Geoffrey Liu

14:05 - 14:25

Thảo luận chuyên gia: Nâng cao hiệu quả điều trị NSCLC có đột biến EGFR với các liệu pháp thế hệ mới

14:25 - 15:25

Phát biểu bế mạc

PGS.TS.BS. Nguyễn Thị Thái Hòa

15:25 - 15:30

Theo GLOBOCAN 2022, Việt Nam ghi nhận khoảng 25.000 ca ung thư phổi mắc mới, trong đó ước tính 85% là ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN). Trong nhóm UTPKTBN, đột biến gen EGFR chiếm tỷ lệ lớn, từ 40-60%. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong điều trị UTPKTBN có đột biến EGFR thường gặp bằng các thuốc EGFR TKI, các dạng đột biến EGFR hiếm hoặc tình trạng đề kháng với EGFR TKI vẫn còn là thách thức lớn.
  • Nhóm đột biến EGFR chèn đoạn Exon 20
  • Ở nhóm bệnh nhân có đột biến EGFR thường gặp như Exon 19del hoặc L858R (Exon 21), điều trị sau khi kháng với EGFR TKI thế hệ 3 vẫn gặp nhiều khó khăn và thách thức. Nguyên nhân chủ yếu là sự đa dạng và không đồng nhất của cơ chế đề kháng, bao gồm cả on target (phụ thuộc EGFR) và off target (không phụ thuộc EGFR). Trong thực hành lâm sàng, việc xác định chính xác cơ chế đề kháng rất thách thức, bởi sinh thiết lỏng chỉ phát hiện được khoảng 26% trường hợp. Các điều trị hiện tại như chemotherapy hay IO vẫn chưa mang lại hiệu quả tối ưu. Do đó, cần một chiến lược điều trị mới, có thể mang lại hiệu quả cao mà không phụ thuộc vào kiểu đột biến đề kháng.
  • Nghiên cứu MARIPOSA-2 đóng vai trò quan trọng khi chứng minh được rằng phác đồ amivantamab kết hợp hóa trị là lựa chọn đầu tiên cải thiện PFS vượt trội so với hóa trị đơn thuần ở bệnh nhân EGFRm NSCLC tiến triển sau osimertinib. Về hiệu quả điều trị, phác đồ này giảm 52% nguy cơ tiến triển hoặc tử vong, với lợi ích PFS nhất quán trên tất cả phân nhóm bệnh nhân, kể cả khi có hoặc không có đột biến đề kháng và bất kể cơ chế on target hay off target hay không xác định (unknown). Tỉ lệ đáp ứng khách quan đạt tới 64% với thời gian đáp ứng kéo dài 6,9 tháng. Đáng chú ý, PFS nội sọ cũng được cải thiện đáng kể, giảm 45% nguy cơ tiến triển nội sọ hoặc tử vong. Đồng thời, dữ liệu OS sơ bộ cho thấy xu hướng cải thiện rõ (HR 0,73; 95% CI 0,54–0,99). Hồ sơ an toàn phù hợp với dữ liệu đã biết, không xuất hiện độc tính mới. Không ghi nhận tăng độc tính của amivantamab hoặc hóa trị. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu khác đang được tiến hành để đánh giá các liệu pháp mới như OptiTROP-Lung04: SAC-TMT, Tropion-Lung01, COMPEL và HARMONI.
  • Khuyến cáo NCCN 2025: Dựa trên bằng chứng mạnh mẽ từ MARIPOSA 2, NCCN 2025 xếp amivantamab + chemotherapy vào Category 1 – Preferred cho điều trị bước 2 ở bệnh nhân EGFRm NSCLC tiến triển sau osimertinib.
Đột biến EGFR chèn đoạn Exon 20 là nhóm đột biến EGFR thường gặp thứ ba, chiếm khoảng 4-12%. Việc điều trị nhóm này gặp nhiều khó khăn do đặc điểm đề kháng nguyên phát với các thuốc EGFR TKI, kéo theo tỷ lệ sống còn 5 năm ở mức thấp, chỉ khoảng 8%. Thông qua các bài báo cáo và phần thảo luận sôi nổi từ các chuyên gia trong nước và quốc tế, có thể rút ra một số điểm chính sau:
  • Trong chẩn đoán, NGS được khuyến nghị vì khả năng phát hiện hơn 100 biến thể exon20ins, vốn dễ bị bỏ sót nếu sử dụng PCR thông thường. Đột biến này được xem là yếu tố tiên lượng xấu, làm tăng 169% nguy cơ tiến triển hoặc tử vong khi điều trị bằng TKI, với OS 5 năm chỉ 8% so với 19% ở nhóm đột biến thường gặp. Do đặc tính đề kháng nguyên phát với EGFR TKI, nhóm bệnh nhân này cần một chiến lược điều trị khác biệt.
  • Amivantamab với cơ chế ức chế kép EGFR/MET và khả năng hoạt hóa miễn dịch có thể vượt qua cơ chế đề kháng của đột biến exon20ins. Trong nghiên cứu CHRYSALIS, amivantamab đơn trị bước 2 đạt ORR 40%, PFS 8,3 tháng và OS 22,8 tháng, và hiệu quả đồng nhất trên nhiều biến thể khác nhau của exon20ins. Trong khi đó, nghiên cứu PAPILLON cho thấy amivantamab kết hợp hóa trị có thể giảm 60% nguy cơ tiến triển hoặc tử vong so với hóa trị đơn thuần, với ORR đạt 73% và hiệu quả đồng nhất trên nhiều biến thể khác nhau của exon20ins. Một số TKI mới như sunvozertinib hay furmonertinib cũng đang được nghiên cứu nhằm đánh giá tính an toàn và hiệu quả trên nhóm bệnh nhân có đột biến EGFR chèn đoạn Exon 20.
  • Theo khuyến cáo mới nhất của NCCN 2025, các phác đồ dựa trên amivantamab được xem là nền tảng trong điều trị bước 1 hoặc bước 2 cho bệnh nhân có đột biến EGFR exon20ins.
  • Bệnh nhân mang đột biến EGFR thường gặp sau khi đề kháng EGFR TKI thế hệ 3

THAM LUẬN VIÊN

CHỦ TỌA

BÁO CÁO VIÊN

  • ThS.BSCKII. Nguyễn Thị Hương Giang
  • Trưởng khoa Nội 3,
  • Bệnh viện K
  • TS.BS. Thái Kinh Luân
  • Phó khoa Ngoại Tiết niệu,
  • Bệnh viện Chợ Rẫy
  • GS.BS. Boris Alexander Hadaschik
  • Giám đốc và Chủ nhiệm Khoa Tiết niệu,
  • Bệnh viện Đại học Essen, Đức
  • PGS.TS.BS. Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng
  • Phó Giám đốc Bệnh viện Bình Dân
  • PGS.TS.BS. Phạm Cẩm Phương
  • Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu,
  • Bệnh viện Bạch Mai
  • BSCKII. Hoàng Khắc Chuẩn
  • Phụ trách khoa Ngoại Tiết niệu,
  • Bệnh viện Chợ Rẫy
  • TS.BS. Nguyễn Việt Long
  • Chủ nhiệm khoa Hóa trị,
  • kiêm Phó Viện trưởng Viện Ung thư,
  • Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
  • TS.BS. Phan Thị Hồng Đức
  • Trưởng khoa Nội tuyến vú, Tiêu hóa, Gan, Niệu,
  • Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM

Thảo luận chuyên gia:
Phối hợp liên chuyên khoa trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt

15:25 - 15:30

14:25 - 15:25

14:05 - 14:25

13:50 - 14:05

13:35 - 13:50

13:30 - 13:35

Phát biểu khai mạc

PGS.TS.BS. Nguyễn Phúc Cẩm Hoàng

Dữ liệu thế giới thực và vị trí của PSA trong quản lý toàn diện mHSPC

ThS.BSCKII. Nguyễn Thị Hương Giang

Trình bày ca lâm sàng 1:
Chiến lược quản lý toàn diện bệnh nhân mHSPC với nội tiết thế hệ mới

TS.BS. Thái Kinh Luân

Trình bày ca lâm sàng 2:
Cân nhắc lựa chọn phác đồ điều trị và theo dõi bệnh nhân mHSPC như thế nào cho hợp lý

GS.BS. Boris Alexander Hadaschik

Phát biểu bế mạc

PGS.TS.BS. Phạm Cẩm Phương

  • ADT đơn trị không còn là điều trị tiêu chuẩn cho mHSPC. Khởi trị với Apalutamide cho thấy tỷ lệ sống sót 2-năm cao hơn so với ADT/CAB (RWE).
  • Đáp ứng PSA nhanh, sâu và bền vững khi điều trị với Apalutamide
  • Khởi trị với Apalutamide cho thấy hiệu quả trên Sống còn toàn bộ, đẩy lùi tiến triển bệnh trên hình ảnh học và nâng cao chất lượng cuộc sống đáng kể khi so sánh với ADT đơn trị.
  • Tầm quan trọng của việc phối hợp đa chuyên khoa trong chẩn đoán và điều trị mHSPC.
  • Apalutamide + ADT được khuyến cáo là lựa chọn điều trị cho tất cả các phân nhóm bệnh nhân mHSPC theo Hướng dẫn NCCN v4.2026 và EAU v2025.
  • Theo các nghiên cứu pha 3, đáp ứng PSA nhanh và sâu cho thấy kéo dài Sống còn toàn bộ, đẩy lùi tiến triển bệnh và duy trì chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.
  • Bệnh nhân khi điều trị với Apalutamide đạt được mức PSA <= 0.2 ng/mL sớm hơn các thuốc cùng nhóm (1.9 tháng) và giảm 73% nguy cơ tiến triển PSA (TITAN).
  • Bệnh nhân có đáp ứng PSA <= 0.2 ng/mL sau 3 tháng điều trị cho thấy chất lượng cuộc sống tốt hơn so với nhóm bệnh nhân không đáp ứng (post-hoc TITAN).

Nội dung này chỉ sử dụng cho Nhân viên y tế